Nhân quả

Thời hoàng kim Gaddafi

Xuyên suốt hệ thống triết học Phật giáo là luật nhân quả và thuyết luân hồi. Phân tích, nghiên cứu đạo Phật thiếu khía cạnh tâm linh không thể hiểu thấu vẻ đẹp vi diệu của pháp Phật.

  • Do sự hạn chế của Khoa học thực nghiệm hiện nay nên những hiện tượng siêu nhiên không thuyết phục những người không tin vào sự tồn tại vĩnh cữu của linh hồn, nên dẫn đến sự phỉ báng, quy chụp, gán ghép… các hiện tượng lạ, nhà ngoại cảm, công phu các nhà yoga, thiền Tây Tạng… là mê tín, dị đoan.
  • Vượt lên trên thời đại, có một lòng tin mạnh mẽ vào sự bất tử của linh hồn, Phật pháp sẽ cho ta một con đường giải thoát thật nhiệm màu, thế giới sẽ biến đổi theo chiều hướng tích cực, cộng đồng loài người sẽ thân thiện hơn, môi trường phục hồi, muôn thú tự do sinh sôi nảy nở …

Vì sao có sự khác biệt lớn giữa việc tin hay không tin sự bất tử của linh hồn?

  • Bởi những người không tin sự có mặt của linh hồn sẽ xem sự sống hiện hữu là thật nên suốt cuộc đời bất chấp lương tâm, đạo lý, thủ đoạn… để vươn lên, khống chế người khác nhằm đạt được mục đích của mình. Thậm chí đến khi chết cũng còn muốn đem theo thế giới quyền lực xuống cỏi âm bằng việc chôn sống người hầu, quân lính, của cải… cùng việc tổ chức đám tang linh đình trên dương thế! (Mâu thuẩn đến mức vô lý!)
  •  Ngược lại việc tin vào quy luật Nhân quả báo ứng sẽ răn đe tà tâm, thú tính, mầm độc… ngay từ ý nghĩ con người. Những lời Phật dạy chúng sinh nhằm gieo Nhân lành để nhận Quả tốt, có những kết quả đến sớm cũng có những kết quả đến muộn theo: Hiện báo, Sinh báo, Hậu báo, do phải trả hậu quả những ác nghiệp còn trong quá khứ.

Thế giới trong những năm vừa qua chứng thực luật Nhân Quả hiện hữu bằng hàng loạt các nhà độc tài, quân phiệt bị phế truất, chết thê thảm… bởi lúc sinh tiền quá đam mê quyền lực, tiền bạc, tửu sắc… phạm toàn những điều cấm trong giới luật Nhân Quả, sự phung phí quá nhiều phước báu sẽ phát sinh hậu quả thảm khốc ngay trong đời không đợi đến lúc tái sanh.
Phước báu mỗi người đều có hạn, không chịu tu tập, tích tụ thêm tất dẫn đến hao hụt, thuyên giảm. Duy trì và phát triển phước báu chỉ xảy ra ở có người thiện căn, với những kẻ độc tài, độc ác thì dẫu có cố gắng duy trì, bảo vệ quyền lực đến cở nào khi phước báu tiêu xài hết thì bị trừng phạt thê thảm bởi luật Nhân Quả một quy luật của vũ trụ.
Sau gần 64 năm tại vị ĐCS VN đã biến chất trở nên phản động, vô đạo, bán nước… trước làn sóng dân chủ mạnh mẽ khắp nơi, ĐCS đã cố gắng duy trì quyền lực bất chấp thủ đoạn và ngỡ rằng sức mạnh bạo lực có thể thắng luật Nhân Quả!
Càng tỏ ra thô bạo, độc tài, độc ác… thì ngày tàn CS càng mau đến, đó là số phận bi thảm của CS VN.

Luật Nhân Quả trong cuộc sống xã hội và khoa học

Luật Nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh.

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiêäu quả, rồi đến con bo,ø đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu. Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù có mướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

Khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài nhận ra luật nhân quả là nền tảng của thế giới tâm linh và vật chất. Mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật chất đều có những sự liên quan vô hình rất chặt chẽ, đó là luật nhân quả. Luật nhân quả là sợi dây vô hình nối liền hai biến cố xuyên qua thời gian và không gian. Cho nên khi hiểu luật nhân quả, ta có thể thay đổi biến cố đó theo chiều thuận cho ta, thay vì phải lo sợ hối lộ hoặc cầu khẩn một vị thần linh tưởng tượng nào đó phù hộ cho ta hoặc thỏa mãn điều ta mong ước. Sự mê tín cuối cùng sẽ đưa đến sự thất vọng và mặc cảm tội lỗi(ta có tội nặng quá vị thần không giúp được).

Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

Luật Nhân quả và khái niệm không gian thời gian.

Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vậït chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất). Như vậy khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp (karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chặm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force) nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Nhân-duyên-quả

Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiêäp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nửa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cảng hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên) vài tháng ta sẽ có những cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).

Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain of events). Những yếu tố duyên tác động lên chuổi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc, si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đếøn quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nện cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưởng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống” hữu hiệu nhứt. Tung kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống làkhi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

Nhân quả và Thiên Chúa giáo.

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răng con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẩn nhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê bai phái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiêng. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếâu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.

Nhân quả và y khoa.

Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bịnh hơn là chữa bịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bịnh.

Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thươcù nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức kháng trụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa làta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Con đường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

Nhân quả và tâm lý học.

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ . Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nửûa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bi thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào…người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.

Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biêän pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)… Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận(2)… Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật ( nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trao giồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.

Tóm lại

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả dử khó có thể biểu hiêän được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, hoc đường…). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trao giồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si làm nhân và nuôi dươnõg những tư tưởng tham,sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bắp bênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Luật nhân quả và bánh xe luân hồi trong đạo phật?

1)Luật nhân quả thường được tóm gọn bằng bốn chữ: “Nhân nào quả nấy”.

Thực đúng như vậy, trên phương diện khoa học thực nghiệm, nếu gieo hạt nhân cam, sau một thời gian, chúng ta có được cây cam và sẽ gặt được quả cam, cộng thêm với một số điều kiện cần thiết, thường được gọi là trợ duyên, chẳng hạn như: phân bón, ánh nắng, nước tưới, thuốc trừ sâu, công chăm sóc. Không thể nào có chuyện gieo nhân cam ngọt lại gặt quả chanh chua, hoặc ngược lại.

Luật nhân quả được áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Có khi gieo nhân trong quá khứ, hiện tại mới gặt quả. Có khi gieo nhân trong hiện tại, gặt quả ngay trong hiện tại. Có những gieo nhân trong hiện tại, vị lai mới gặt quả. Thí dụ như: gieo nhân tu tập lâu dài, một cách kiên tâm trì chí, mới gặt được kết quả cuộc sống an lạc hạnh phúc, cao hơn nữa, đạt được giác ngộ và giải thoát. Trái lại, sinh sự sự sinh, đánh người người đánh, chơi dao đứt tay, chơi lửa phỏng lửa, ngay trong hiện tại, cho nên thường được gọi là quả báo nhãn tiền.

Tuy nhiên, có người gieo nhân thiện lành, trong hiện tại, như là: tụng kinh, niệm Phật, đi chùa, bố thí, cứu người, giúp đời, ăn hiền, ở lành, hiếu thảo, nhưng thường gặp phải những quả chẳng lành, trong hiện tại, như là: xui xẻo, tai nạn, thất bại, con cái hư hỏng, gia đạo bất hòa, cửa nhà suy sụp.

Trái lại, có người gieo nhân xấu ác, chẳng lành, trong hiện tại, như là: trộm cắp, gian giảo, lừa đão, ngậm máu phun người, vu khống cáo gian, sang đoạt của cải, tâm địa hiểm độc, đâm bị thóc thọc bị gạo, làm nhiều việc thất nhơn ác đức, nhưng lại gặp nhiều quả tốt lành, trong hiện tại, như là: giàu sang, quyền thế, ăn nên làm ra, sự nghiệp phát triển, thế lực ngày càng lớn lao, địa vị ngày càng vững mạnh.

Trường hợp trên, gieo nhân lành trong hiện tại, nhưng quả lành chưa kịp trổ ngay hiện tại. Trong khi đó, gieo nhân xấu ác, chẳng lành, trong quá khứ, hiện tại đang trổ quả báo. Thêm nữa, nhiều người tu mà không học, chỉ biết tụng kinh, niệm Phật, làm lành, nhưng không thấu hiểu giáo lý một cách rõ ràng, để áp dụng trong cuộc sống hằng ngày.

Nhiều khi làm được một vài việc lành, như là: giúp người một việc, trích dẫn một bài kinh, tìm giúp một cuốn sách, rồi đâm ra kênh kiệu, ngã mạn, tưởng rằng đã làm phước nhiều rồi, đòi được đền đáp, đòi được trân trọng! Tụng kinh niệm Phật, mà không biết đối xử từ bi hỷ xả, không áp dụng giáo lý trong cuộc sống hằng ngày, thì trách sao gia đạo chẳng bất hòa, con cái chẳng hư hỏng, người khác chẳng trân trọng!

Trường hợp sau, gieo nhân xấu ác, chẳng lành, trong hiện tại, nhưng quả báo chưa kịp trổ ngay hiện tại. Trong khi đó, gieo nhân lành trong quá khứ, hiện tại đang trổ quả lành. Tuy nhiên, khi những quả lành chấm dứt, nghĩa là phước báo hết, con người phải đền trả những nghiệp báo xấu ác, chẳng lành, đã tạo hiện tại hay trước đây.

2)Hình ảnh Bánh xe Luân Hồi là tượng trưng Thuyết Luân Hồi:
Luân hồi ( 輪迴), nguyên nghĩa Phạn ngữ là “lang thang, trôi nổi”, có khi được gọi là Hữu luân (有輪), vòng sinh tử, hoặc giản đơn là Sinh tử (zh. 生死). Thuật ngữ này chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn.
Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện, gồm có tham, sân, si và vô minh.
Nghiệp là động cơ tác động lên cơ chế của sự tái sinh. Trong Đại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết-bàn.

Cội nguồn của luân hồi từ đâu, loài hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Phật, chúng chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập.
Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh.

Một sự ngộ nhận về luật nhân quả

 Thich Phuoc Thai

Hỏi: Kính thưa thầy, con không phải là người tu theo đạo Phật, nhưng lâu nay con nghe nói nhiều về luật nhân quả của đạo Phật và duyên nghiệp nhiều đời trồng chéo lên nhau. con thấy có nhiều người nói về nhân quả, nhưng thường thì họ chỉ nói chứ ít khi nào áp dụng vào đời sống của mình. Con có một cá tánh là khi biết người khác đối xử xấu với mình, con thường im lặng và tìm cách tránh chớ không nói. Như vậy, đối với luật nhân quả con có phạm hay không? Kính mong thầy giải thích.

Ðáp: Trong câu hỏi của bạn, nếu phân tích thì tôi thấy có ba vấn đề chi tiết cần được trao đổi chia sẻ:

Thứ nhứt, theo bạn nói: “bạn thấy có nhiều người nói về nhân quả, nhưng thường thì họ chỉ nói chứ ít khi nào áp dụng vào đời sống của mình”. Ðiều nầy, tôi hoàn toàn đồng ý với bạn. Nhưng thưa bạn, trên đời nầy ít có mấy ai thật hành đúng theo hết những gì mà mình đã nói. Giữa lý thuyết và thật hành, thật khó mà song hành hợp nhứt với nhau. Nói thì rất dễ nhưng làm thì rất khó. Vì thế, nên sách Nho có câu: “Thuyết dị, hành nan” hay “năng thuyết bất năng hành”. Lý thuyết bao giờ cũng đi xa hơn hành động. Nếu nói và làm đi đôi với nhau, thì cõi đời nầy chắc không còn ai chịu nhiều đau khổ nữa. Do đó, nên ta thấy các bậc Cổ Ðức, thường các ngài ít nói, và chỉ nói những gì trong phạm vi khả năng mà các ngài có thể thật hành được thôi. Bởi vậy, nên các ngài rất cẩn trọng ở nơi lời nói.

Trong đạo Phật có câu nói: “Tri hành hợp nhứt”. Câu nói nầy nhằm để cảnh tỉnh khuyến tấn, nhưng trên thực tế thì ít có mấy ai làm đúng. Chính vì không hợp nhứt, nên đôi khi trở thành là kẻ nói khoát. Hiểu biết tuy cũng rất cần thiết, nhưng nó chỉ đem lại lợi ích cho phần sở tri kiến giải của mình thôi. Cũng như người có đôi mắt thật sáng, nhìn xa thấy rộng, họ có thể nói đông nói tây đủ thứ chuyện trên đời, nhưng nhìn lại, thì họ vẫn còn dặm chân tại chỗ. Dù rằng họ có đôi chân rất mạnh.

Như thế, thì thử hỏi làm sao đến nơi mà họ nhắm tới. Khác nào như người ngồi đó chỉ biết diễn tả phân tích đủ thứ món ăn tuyệt diệu trên đời, nhưng rốt lại thì bụng họ vẫn đói meo. Họ nói thì rất hay, nhưng bản thân họ chưa từng bước chân xuống bếp.  Người xưa có câu: “Muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn chết phải lết vô hòm”. Ðây là câu nói nhằm cảnh tỉnh thức nhắc người ta nên làm hơn là nên nói. Hãy biến nhận thức của mình thành hành động cụ thể. Có thế, thì mới có lợi ích thiết thực.

Tuy nhiên, sự nhận định hiểu biết đúng hướng chân lý (chánh kiến ) tuy chưa thật hành đúng theo, nhưng điều đó cũng rất là tốt và cần thiết. Chỉ sợ nhận định sai lầm ( tà kiến ) rồi chấp chặt bảo thủ làm theo, đó mới là điều tai hại đáng nói. Cho nên, điều quan yếu trước tiên là phải nhận định đúng với chân lý, còn việc thật hành thì có thể thực hiện từng bước cũng không sao. Cũng như người đứng dưới chân núi, thấy rất rõ hình dạng của ngọn núi, nhưng muốn tới ngọn núi, thì đòi hỏi họ phải gắng sức trèo lên từ từ từng bước vững chắc. Tuy chưa tới ngọn núi liền, nhưng cái hướng thấy của họ không bị sai lệch.

Trong nhà Phật có câu nói: “Ðốn ngộ, nhưng phải tiệm tu”. Có thể cái chỗ thấy biết tương đồng với Phật Tổ, nhưng phải từ từ tu tiến, vì tập khí nghiệp chướng của con người còn quá sâu nặng. Như vậy, có những người tuy họ nói nhiều về nhân quả, nhưng sự thật hành của họ quả không đúng theo những gì họ nói. Người như thế, tuy họ không được lợi ích nhiều, nhưng ít ra họ cũng không đến nổi phải gây ra những lỗi lầm sâu nặng. Vì họ đã có ý thức đến lý nhân quả vay trả phần nào.

Như bạn nói, họ ít khi áp dụng chớ không phải hoàn toàn là họ không có áp dụng. Nghĩa là họ có áp dụng từ từ, đó gọi là họ đang hướng đời mình trên bước đường tu tập. Như thế, kể ra họ cũng vẫn còn tốt hơn là những người mà cả đời chưa bao giờ học hỏi biết đến nhân quả và họ cũng không bao giờ áp dụng một chút nào theo lý nhân quả trong cuộc sống. Do đó, nên suốt đời họ gặp phải nhiều tai nạn khổ đau. Có tránh nhân xấu thì mới không gặp quả xấu. Ở đời, nếu mình đòi hỏi phải thật hành một cách toàn vẹn, điều đó, thật khó có ai làm được, ngoại trừ các bậc Thánh nhân.

Thứ hai, bạn nói: “là bạn có cá tánh khi biết người khác đối xử xấu với mình thì bạn thường im lặng và tìm cách tránh chớ không nói”. Ðiều nầy là bạn hiện tập cho mình có một thói quen tương đối khá tốt. Nghĩa là bạn khéo áp dụng câu châm ngôn của người xưa: “Im lặng là vàng nói là bạc”. Ðiều đáng nói hơn nữa, là bạn khéo biết tránh duyên. Bạn tìm cách tránh né chớ không muốn đương đầu để tranh cãi hơn thua. Ðứng về mặt xử thế tự lợi, điều nầy bạn xử sự rất tốt cho bạn. Vì bạn không muốn gây ra những chuyện phiền phức rắc rối cho mình và người.

Ðấy là bạn đang thực tập hạnh nhẫn nhục rồi đó. Nhưng nếu bạn tập tánh khá hơn nữa là tuy tìm cách tránh né, nhưng bạn không bao giờ quan tâm cất chứa những lời nói của họ ở trong lòng. Ðó là bạn đang thực tập hạnh hỷ xả. Hạnh nầy thật rất khó làm. Nhưng nếu bạn cố gắng thực tập, thì chắc chắn có ngày bạn sẽ thành công. Chẳng những bạn không buồn giận họ, mà bạn còn thương xót tật tánh của họ. Vì họ chưa biết thực tập tánh tốt không nói xấu ai. Người thích nói xấu chỉ trích lỗi lầm kẻ khác là vì người đó tâm của họ còn quá thô tháo vọng động, còn thích nhiều chuyện thị phi. Họ là hạng người thích làm cảnh sát quốc tế. Do đó, nên bạn cần thương họ nhiều hơn. Vì biết họ vẫn còn ôm ấp quá nhiều đau khổ nội kết trong lòng. Bởi thế, họ là người thật đáng thương hơn đáng trách!

Thứ ba, bạn nêu ra câu hỏi: “Như vậy đối với luật nhân quả bạn có phạm hay không?”  Ðiều nầy, có lẽ bạn đã hiểu lầm về luật nhân quả rồi. Thưa bạn, luật nhân quả khác hơn những điều luật cấm giới. Luật nhân quả không mang tính giới điều như là giới luật mà người ta đã lãnh thọ. Dù bạn tu theo bất cứ tôn giáo nào, mỗi tôn giáo đều có những giới luật răn cấm cả. Nhân quả, sở dĩ người ta gọi là luật, bởi vì nó là luật tắc thiên nhiên có tác dụng vận hành chi phối toàn thể vũ trụ. Vì thế nên nói nhân quả là một chân lý phổ biến. Chân lý nầy nó tiềm tàng bao trùm trong mọi sự vật, không có một vật thể nào thoát ngoài định luật nầy. Từ thực vật, động vật, khoáng vật v.v… không một loài nào thoát khỏi.

Nói cách khác là từ vật lý, sinh lý, cho đến tâm lý… không có một thứ gì mà không có nhân quả. Lý nhân quả được đặt định trên chiều thời gian. Vì từ nhân tới quả phải có thời gian. Ngoài chánh nhân ra, nó còn nhiều trợ duyên khác nữa. Cho nên nhân quả là một hiện tượng rất phức tạp xuyên suốt qua ba thời kỳ: quá khứ, hiện tại và vị lai, chớ không phải đơn giản như nhiều người lầm tưởng. Bạn thử tìm mọi hiện tượng trên đời nầy có cái gì không phải là nhân quả. Ăn là nhân, no là quả. Học là nhân, biết chữ là quả v.v…

Nói tóm lại, người hiểu lý nhân quả và khéo biết ứng dụng vào trong đời sống, thì họ sẽ có được lợi lạc rất lớn. Như vậy luật nhân quả là quy luật vận hành tự nhiên của vạn hữu vũ trụ. Không ai đặt định bày ra luật nhân quả nầy. Ðức Phật cũng chỉ là người giác ngộ khám phá ra luật nhân quả mà thôi. Mong bạn cố gắng khéo ứng xử hành hoạt đúng theo luật nhân quả, tức theo chiều hướng thánh thiện, thì đời bạn sẽ gặt hái nhiều điều lợi lạc trong đời sống vậy.

http://www.quangminh.org.au
http://daitangkinhvietnam.org

Địa ngục ở đâu?

Tâm ?àn

Vô th??ng ch?n h?u th??ng,

Hoa sen bùn lây h??ng.

Ngay bên b? v?c th?m

Là cánh hoa yêu th??ng. Ngày xưa khi con người còn tin rằng trái đất cố định ở giữa trung tâm vũ trụ và những tinh tú quay quanh những mặt cầu với trái đất là tâm điểm, người ta cho rằng bên ngoài tất cả những mặt cầu đó là thiên đàng và địa ngục. Một số đông khác lại cho rằng địa ngục ở sâu trong lòng đất hoặc ở những nơi băng giá, bởi vì cái hình ảnh ghê rợn của địa ngục trong trí tưởng tượng của mỗi con người, không nóng như lò thiêu đốt thì cũng lạnh giá buốt xương và sự trừng phạt thì triền miên. Với khoa học kỹ thuật tân tiến bây giờ, con người có thể thăm dò những vùng trời xa thẳm cũng như sâu trong lòng đất. Chúng ta thử nương theo đó tìm xem địa ngục ở đâu.

Trong mấy thập niên vừa qua ngành vi sinh học đã phát triển mạnh và đã tìm thấy những vi sinh vật kỳ lạ. Có những vi sinh vật sống bằng chất lưu huỳnh thải ra từ những cống rảnh và bài tiết axit lưu huỳnh (làm hư hại những ống cống đúc bằng bê tông).  Nồng độ của axit này cao đến nổi có thể sát hại tất cả những sinh vật khác và có thể làm chảy cả kim loại, thế nhưng loài vi sinh vật này không thể phát triển nếu không được sống trong môi trường axit đó. Tử Hải (Dead Sea) ở giữa Do Thái và Jordan là vùng biển nằm trong lục địa, do nước sông Jordan chảy vào và bốc hơi nên độ mặn gấp chín lần nước biển của các đại dương khác. Chung quanh Tử Hải đều trơ trụi không có sự sống, thế nhưng vẫn có một loại vi khuẩn sống trong vùng biển đó. Cũng có những loại vi khuẩn khác có thể sinh sống trong những vùng nước băng giá ở Nam Cực. Dung dịch kiềm như chúng ta biết rất hại da, nhưng vẫn có vi khuẩn sống trong đó. Ngay trong những thùng chứa những đồ phế thải đầy chất phóng xạ vẫn có sự sống của một số vi sinh vật. Trong những vùng với áp suất rất lớn so với áp suất khí trời của bầu dưỡng khí, hoặc ngay cả trong chân không, người ta cũng tìm thấy có sự sống. Dưới lòng đại dương, tại những vùng có núi lửa với nhiệt độ có thể lên tới mấy trăm độ, vẫn có nhiều loại vi sinh vật sinh sống. Sự sống trên mặt đất cần năng lượng mặt trời. Những vi sinh vật dưới lòng đại dương, không bao giờ thấy ánh mặt trời, lấy hóa năng từ những phún thạch để sinh tồn. Sâu nhiều cây số dưới lòng đất với nhiệt độ trên 150 độ, các nhà vi sinh học cũng đã tìm thấy hằng ngàn loại vi sinh vật khác nhau.

Vượt ra ngoài không gian người ta cũng đã có bằng chứng về sự sống trên Hỏa Tinh. Một số thiên thạch tìm thấy trên trái đất đã được chứng minh là rơi từ Hỏa Tinh, và kiểm nghiệm cho thấy có dấu vết sự sống của vi sinh vật trong những thiên thạch đó. Hỏa Tinh là một hành tinh băng giá, có khi xuống đến 140 độ âm, bầu khí quyển mỏng, chính yếu là thán khí, không có vòng đai ozon (ozone layer) che chở nên những tia cực tím độc hại tha hồ xâm nhập, đất đai thì bị oxit hóa và khô cằn. Do đó khó có thể chứng minh sự sống tồn tại trên mặt Hỏa Tinh. Tuy nhiên dưới lòng Hỏa Tinh thì lại khác, tình trạng không khắc nghiệt như trên bề mặt, hơn nữa lại có nước. Sự sống có thể tồn tại nơi đây, cũng như tồn tại trong lòng địa cầu của chúng ta vậy. Ba bốn tỷ năm về trước khi Hỏa Tinh cũng như Địa Cầu đang liên tục bị bắn phá bởi nhiều thiên thạch trong Thái Dương Hệ, đất đá của hai hành tinh này bay tung tóe ra không gian, mang theo những vi sinh vật, lang thang trong không gian có thể cả hàng trăm triệu hay hàng tỷ năm trước khi rơi xuống một hành tinh khác. Thân vi sinh hàng ngàn bến nước, trong nhờ đục chịu, con đường tỵ nạn lại hiểm trở gấp triệu lần so với hải tặc sóng gió bão bùng, có cơ duyên sẽ được định cư ở một vùng đất tốt đẹp hơn. Người ta tin rằng có những loại vi sinh vật sống trong những kẻ hở đất đá có thể chịu đựng cuộc hành trình liên hành tinh này bằng một giấc ngủ dài, và sẽ thức giấc và phát triển khi môi trường chung quanh trở nên thuận lợi. Cuộc viễn du kiểu này không chỉ giới hạn giữa Hỏa Tinh và Địa Cầu mà có thể nới rộng khắp trong vũ trụ. Ngoài ra cũng có giả thuyết cho rằng vi sinh vật có thể lang thang khắp trong vũ trụ không cần phải ẩn thân trong thiên thạch, trái lại chỉ cần những màng bao bọc như những phi thuyền liên hành tinh tí hon. Chúng ta có thể liên tưởng giả thuyết này với những bụi phấn bay trong gió tìm nơi thụ tinh đâm hoa kết trái.

Sống trong dung dịch axit lưu huỳnh, dưới lòng đất nóng hổi và không có ánh mặt trời, bên cạnh núi lửa dưới lòng đại dương hay lơ lửng trong không gian đầy bức xạ, tôi không nghĩ rằng những loại vi sinh vật đó đang bị cực hình tra tấn. Ngược lại nếu đảo lộn môi sinh, ví dụ cho con người ngâm vào axit lưu huỳnh hoặc đem loài vi sinh đang sống êm đềm trong chất axit này sang một môi trường khác, có lẻ đó là một tra tấn cực hình. Như vậy nếu quan niệm địa ngục là một vị trí nào đó trong vũ trụ thì chỗ nào cũng có thể là địa ngục, và khái niệm địa ngục chỉ là một khái niệm tương đối: nơi đây là địa ngục của sinh linh này, nơi kia là địa ngục của sinh linh kia. Nhưng phải chăng ngục tù luôn luôn là địa ngục còn lầu son gác tía luôn luôn là chốn bồng lai? Một tù tử tội khi tìm được một tia sáng chân lý có thể thanh thản ra đi. Những đội từ thiện từ bỏ đời sống vật chất phồn hoa đô hội của các xứ văn minh dồi dào vật chất, đến những vùng nghèo nàn hiểm nguy thường xuyên đe dọa bởi chiến tranh, chăm sóc những người già nua bệnh hoạn tàn tật, những trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Nếu việc làm của họ không có một mục đích nào khác hơn lòng từ bi bác ái, tâm hồn cao thượng của họ quả vượt hẵn những hạnh phúc vật chất và phe phái tầm thường. Mẹ Teresa hy sinh cả cuộc đời cho những người cần được giúp đở hẵn phải có một trái tim từ bi vô hạn. Hòa Thượng Quảng Đức và nhiều tu sĩ khác của Phật Giáo VN, vì tình thương vô biên dành cho hàng triệu Phật tử VN bị áp bức trước đây, đã tự thiêu mình để phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, và nhờ đó bạo quyền đã bị khuất phục. Không còn danh từ nào khác hơn hai chữ Bồ Tát mới xứng đáng cho những vị đó. Tham sân si, tranh giành nhau mưu quyền đoạt lợi trái lại làm lòng người nặng chĩu. Trong chốn thâm cung ngày xưa cũng như các phủ tổng thống thủ tướng ngày nay, tôi tin rằng không thiếu những tâm hồn nặng chĩu như thế. Tôi còn nhớ mười sáu năm trước, khi mới bước vào trại tỵ nạn Hồng Kông, nhìn cảnh sống vô trật tự, luật rừng nhiều hơn luật pháp và đạo đức căn bản của con người, tôi lẩm bẩm “địa ngục trần gian”. Tâm hồn tôi băng hoại. Cũng may dần dần tôi thích nghi hoàn cảnh, suy nghĩ phải làm cái gì hữu ích để giết thời gian. Tôi bắt đầu tham gia các lớp học Anh văn, phụ giúp các hội từ thiện, liên lạc với cảnh sát trong trại để đưa lên những ý kiến của dân trong trại. Tâm hồn tôi từ từ lắng đọng, thời gian không còn là một gánh nặng nữa. Tôi quên đi sự nóng lòng sớm được định cư như hồi mới đến. Tôi suy nghĩ: Bất hạnh không hẵn chỉ ở chốn lao tù mà cũng có thể ở nơi lầu son gác tía. Tương tự, hạnh phúc không hẵn chỉ ở nơi kín cổng cao tường mà cũng có thể ở nơi đầu đường xó chợ. Vậy có lẽ địa ngục, hay niết bàn, hay một cảnh giới trung gian nào đó, phải được mô tả bằng một trạng thái tâm linh, đo lường bằng những mức giác ngộ khác nhau của dòng tri thức: duyên nghiệp (karma).

Duyên nghiệp có thể mô tả bằng hàm số F = F(v, t, s, a, l, e, m, c) tùy thuộc vào 8 biến số: v = nhìn (view), t = nghĩ (thought), s = nói (speech), a = làm (action), l = sinh kế (livelihood), e = cố gắng (effort), m = cảnh giác (mindfulness) và c = tập trung (concentration). Mỗi một biến số này là một hàm số của thời gian, có thể định nghĩa, chẳng hạn, vào một thời điểm nhất định nào đó, v = 1 hàm ý một cái nhìn đứng đắn như của một vị Phật, v = -1 ngược lại hàm ý một cái nhìn hoàn toàn sai lầm, ngược với lời Phật dạy. Ngoài ra v còn có thể có những giá trị trung gian khác giữa -1 và 1 để mô tả những cái nhìn lưng chừng. Bảy biến số còn lại cũng được định nghĩa một cách tương tự. Như vậy nếu vào giây phút hiện tại tất cả 8 biến số đều bằng 1, có nghĩa karma đã được tẩy sạch, dòng tri thức đã hoàn tất Bát Chánh Đạo, F(1, 1, 1, 1, 1, 1, 1, 1) là Niết Bàn. Ngược lại địa ngục là  F(-1, -1, -1, -1, -1, -1, -1, -1). Những giá trị trung gian khác của hàm số F có thể dùng để mô tả những trạng thái trung gian giữa Niết Bàn và Địa Ngục. Cải thiện những giá trị của tám biến số v, t, s, a, l, e, m, c để có thể có được một giá trị tốt của hàm số F có nghĩa là học hành và tu tập đúng theo con đường Phật Pháp. Dùng trí tuệ để tìm hiểu Phật Pháp là bước thiết yếu căn bản đầu tiên của việc tu hành nhưng thực ra chưa phải là tu hành. Ở giai đoạn trí tuệ này con người vẫn thường xuyên bị ảo ảnh đánh lừa, tâm hồn vẫn bị dao động cho dù chúng ta có thể thấu hiểu Phật Pháp đi nữa. Lý do căn bản của sự dao động là chúng ta chưa áp dụng được Phật Pháp từng giây từng phút vào đời sống hằng ngày. Trái lại, tu hành là, từng giây phút của hiện tại,  có thể biến Phật Pháp thành kinh nghiệm sống, mãi mãi được duy trì trong dòng tri thức. Khi phóng một tầm nhìn, một tư tưởng, một lời nói, một hành động, v.v…, ban đầu chúng là những mớ tài liệu hỗn độn phức tạp, sau đó được đưa vào chiếc máy vi tính với nhu liệu DNA (Deoxyribo-Nucleic Acid) tinh vi, và tri thức của chúng ta – như là người xử dụng máy – sẽ chạy ra kết quả. Kết quả đó có thể là một cảm xúc, một nhận thức, tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, dục, v.v… Nhu liệu DNA chứa đựng những dãy mật mã (gene) là những chuổi dài gồm 4 loại phân tử với tên hóa học A (adenine), G (guanine), C (cytosine) và T (thyamine), trong đó A được ghép với T và C với G. Khoa học không tìm thấy những chuổi mật mã này tuân theo một thuật toán nào cả nên cho rằng cấu trúc của chúng là ngẫu nhiên. Khái niệm ngẫu nhiên tương đối khó hiểu và có nhiều tranh luận triết học. Những đạn đại pháo bắn vào mục tiêu địch, cho dù dưới những điều kiện hoàn toàn giống nhau, thường không rơi xuống cùng một điểm. Người ta cho đó là hiện tượng ngẫu nhiên, và lý thuyết xác suất và thống kê là những lý thuyết toán học dùng để giải thích những hiện tượng ngẫu nhiên này. Thật ra tôi tin rằng không có điều gì là không có điều kiện và nguyên nhân. Sự hình thành của một hiện tượng là hậu quả chín muồi của nhiều điều kiện và nguyên nhân hợp lại. Do đó cái gọi là ngẫu nhiên thật ra chính là những điều kiện và nguyên nhân mà con người không (hoặc chưa) quan sát thấy. Sinh vật (và nhất là con người) quả thật kỳ diệu. Tung một con mèo lên không trung, tự nó có thể đáp xuống một cách nhẹ nhàng không bị tổn thương, nhưng nếu tung một chiếc máy vi tính lên cao chúng ta phải tốn khoảng năm sáu ngàn đồng mua một chiếc máy vi tính khác! Máy vi tính chỉ biết tuân theo những thuật toán để đối thoại với chúng ta, do đó rất khô khan và cứng nhắc, không thể sánh với nhiều loài động vật đầy hỷ nộ ái dục. Như vậy nhu liệu DNA phải tinh vi hơn những nhu liệu viết theo những thuật toán thông thường, và rất có thể được viết bằng karma. Điều này may ra mới có thể giải thích được tính đa dạng của sự sống. Karma tuy hợp lý dể hiểu (ví dụ thiện lai thiện báo ác lai ác báo, hoặc gieo gió gặt bão, v.v.) vẫn không thể dễ dàng phân tích một cách tường tận. Chúng ta đã quen thuộc với nguồn gốc và sự tác động của, chẳng hạn, điện trường, từ trường, trường trọng lực, v.v… Tôi nghĩ “trường karma” cũng có nguồn gốc và những tác động tương tự, ví dụ, một lời nói có thể làm lòng người tan nát, cũng có thể làm người ta phấn chấn, hoặc một ý nghĩ cho dù chưa biến thành hành động cũng có thể thay đổi tâm tư của chính mình. Karma in dấu trên dòng tri thức, thể hiện qua những mật mã trong những phân tử DNA, có tác động ảnh hưởng đến tri thức. Ngược lại dòng tri thức cũng có thể sinh sản và làm thay đổi karma sẵn có. Bởi vì DNA của đa số chúng ta được viết bằng những duyên nghiệp chứa đầy cảm xúc nên khi chúng ta phóng một tầm nhìn, một tư tưởng, một lời nói, một hành động, v.v…, sự dao động có thể thay đổi từ niết bàn xuống đến địa ngục. Bằng sự dao động đó, mỗi quyết định của chúng ta, chỉ trong nháy mắt, có thể cách biệt một trời một vực. Sai một li đi một dặm. Bên bờ vực thẳm là cánh hoa yêu thương. Những vị chân tu có thể vào được vườn hoa yêu thương đó bằng những bước đi vững vàng, nhưng chúng ta có lẽ chưa hẵn.

Posted on Tháng Một 7, 2012, in Văn hóa. Bookmark the permalink. Để lại phản hồi.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.