Thiền

Ngổi Thiền

Đầu óc con người thường ở trạng thái động, suy nghĩ lan man khiến năng lực tư duy giảm sút. Thiền là một trong những biện pháp giúp Phật tử tinh tấn trên con đường tu học.
Thường phải có thầy hướng dẫn mới thực hành tốt, mau tiến bộ “Công phu” Thiền, nếu ai muốn khám phá “Thiền” có thể tập thử giai đoạn một của ngồi Thiền, nếu cảm thấy yêu thích có thể tiếp tục tìm hiểu và tầm sư học đạo.

  • 1. Chuẩn bị: Sau khi ăn no 2h, trước khi ngồi thiền, cần hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày để tư tưởng khỏi vướng bận; Tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo rộng; Chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.
  • 2. Tư thế: Ngồi trên tấm chăn hay nệm mỏng 3-5 phân, có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già. Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được. Ngồi cách tường 70Cm, mắt nhìn xuôi xuống 45o
  • 3. Giảm các kích thích giác quan: Một trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu. Người xưa gọi là “bế ngũ quan”, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt. Giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.
  • 4. Khởi động: Hít thật sâu bằng mũi theo dỏi luồng khí chạy đến huyệt Đan điền (cách dưới rốn khoảng 3cm) nín cho hơi lan tỏa xung quanh huyệt rồi thở ra  tống hết các chất xú uế, thải bỏ ra bằng đường miệng. Làm 3 lần rồi tiến đến giai đoạn chính.
  • 5. Thiền: Người mới tập nên theo bước một: Để hơi thở điều hòa tự nhiên: hít vào đếm 1, thở ra đếm 2 tập trung đếm đến 10 khi hết thì đếm trở lại từ 1 đến 10, khi nào phân tâm xao nhãng thì bỏ lần đó đếm lại từ 1. Hơi thở tự nhiên càng lúc càng ngắn dần đến lúc ngưng, toàn thân rơi vào trạng thái “Thiền”
  • 6. Tập trung tâm ý: Đây là giai đoạn chính của buổi hành thiền. Như đã nói ở phần trên, thiền chính là sự tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào.
  • 7. Xả thiền: Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.

Giai đoạn đầu do chưa quen nên người tập Thiền khá vất vả khi phải “Nhập định”, thực hành nhuần nhuyễn và cảm thấy thích “Thiền” người tập nên có người hướng dẫn điều khiển Tâm thức hoạt động theo hướng nào để tránh “Tẩu hỏa nhập ma”.
Có rất nhiều trường phái “Thiền”, người Phật tử nên theo sự chỉ dẫn của các Tăng Ni để đảm bảo con đường Chánh đạo tránh đi lòng vòng mất thời gian.
Đỉnh cao của “Thiền” là trạng thái xuất hồn, năng lực phát sinh hóa giải bệnh tật, khai mở tâm trí đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”.
“Thiền” là một văn hóa độc đáo của phương Đông khiến người Tây phải nể phục gán cho tên “Phương Đông Huyền Bí” trên đường chinh phục, tìm kiếm thuộc địa thế kỷ 17-20.

Thiền – “Thuốc” đa năng

Thiền là một phương pháp tập luyện có từ rất lâu đời ở phương Đông do Đức phật Thích ca thực hiện đầu tiên nhằm làm cho con người giải thoát được khổ đau, hài hòa được thân tâm, phát huy được trí tuệ của chính mình. Dưới góc độ khoa học, phương pháp thở của thiền có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn, mất cân bằng của hệ thần kinh và não bộ.


Hiểu đúng về thiền

Việc thực hiện thiền từ hơn 2.500 năm nay theo Đức phật rất khó thực hiện vì những triết lý: hiểu sâu về chân tâm và vọng tưởng trong khi thiền nên nhiều người đã thực hiện theo cách hiểu của mình làm cho việc tu thiền có đến cả triệu phương pháp. Bản thân thiền sư Thích Thông Triệu (Thiền chủ Thiền viện Tánh không ở Hoa Kỳ) ngày xưa cũng đã thất bại khi áp dụng tu thiền theo truyền thống.

Muốn dập tắt vọng tưởng, tức là những ý nghĩ miên man khởi lên trong đầu, chính vọng tưởng được coi là sự tự nói thầm, khi dừng được nói thầm trong đầu thì vọng tưởng dừng và tâm được an tịnh (tâm được yên). Năm 1982, khi thiền sư cảm nhận được sự nói thầm (vọng tưởng) trong đầu đã làm chủ được vọng tưởng. Từ kinh nghiệm đó, thiền sư đã ngộ được mối liên hệ giữa hệ thống thần kinh và quá trình thiền. Mãi đến năm 2006, nhờ 2 nhà não học người Đức là Erb và Sitaran chụp hình não bộ mới biết được cụ thể của các vùng của não bộ. Theo kết quả nghiên cứu, người ta chia não bộ thành 2 vùng: vùng phía trước và vùng phía sau. Vùng phía sau đảm nhiệm tính “giác” (giác ngộ) của thiền. Cho nên khi thực hành thiền cần chú ý tập trung vào vùng có tính “giác” và để yên phần phía trước vì phần này hay gây ra vọng tưởng.

Từ phương pháp thở đó, do có liên quan mật thiết với hệ thần kinh (trung ương và hệ giao cảm) nên nó có khả năng điều chỉnh sự mất cân bằng của hệ thần kinh (theo y học cổ truyền, sự mất cân bằng này là sự mất cân bằng âm dương, mất cân bằng về hàn nhiệt gây ra các triệu chứng “hư thực” của các tạng phủ).
Thiền là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc rất được ưa chuộng hiện nay.

Cách thực hành tu thiền

Người ta ngồi xếp bằng (kiết già, bán kết hay ngồi bình thường cũng được, nhưng ngồi được theo 2 cách trước thì tốt hơn), toàn thân thư giãn, tâm tĩnh lặng (không nói thầm, không nói vọng tưởng) rồi thở chậm và sâu (hít vào thở ra sâu hơn bình thường) nhưng đừng cố gắng và thở càng chậm càng tốt.

Theo quy luật tự nhiên, người ta thở trung bình mỗi ngày là 21.600 lần/24 giờ (15 lần/phút x 60 phút x 24 giờ). Người ta nhận xét sinh vật nào thở chậm – đời sống kéo dài (rùa, hạc); sinh vật nào thở nhanh – đời sống ngắn lại (chim, khỉ). Sự hô hấp chậm rãi của thiền, có người đã đạt nhịp thở 6 lần/phút, có người đạt tới 1 lần/phút, đó là công phu tập chứ không phải do gắng sức.

Ngày nay, nhiều người, kể cả các nhà khoa học phương Tây không còn coi thiền là một phạm trù tôn giáo mà thiền là một phương pháp thực hiện một nếp sống lành mạnh, trong sáng cho mọi người. Quan trọng nhất là phải ngồi thiền thường xuyên hằng ngày, mỗi ngày 2 lần trong 30 – 45 phút (sáng sớm và trước khi đi ngủ), tốt nhất là 5 giờ sáng và sau 11 giờ đêm (giờ tý – đầu của ngày mới), nên ngồi quay mặt về hướng Nam (thuận theo từ trường của trái đất). Miệng ngậm, đầu lưỡi đặt vào chân răng hàm trên, 2 bàn tay đặt chồng lên nhau, chân bên nào để trên thì bàn tay bên đó cũng để trên, hai ngón cái chạm nhau (để khép kín mạch âm dương trong cơ thể) – đó là tư thế ngồi thiền.

Để tránh vọng tưởng (sự nói thầm), khi thiền cần tập trung tư tưởng vào phần não phía sau hay có thể niệm 6 từ: “Nam mô a di đà phật” dịch từ tiếng phạn của Ấn Độ: “Nam mô a mi ta ba”. Sáu âm thanh này có tần số và biên độ của các sóng âm trùng hợp với biên độ và tần số của các luân xa (trung tâm tiếp nhận năng lượng vũ trụ) nên có sự cộng hưởng ở các luân xa để tiếp nhận các năng lượng này và bổ sung cho cơ thể để lập lại sự cân bằng năng lượng ở các tạng phủ làm cho con người khỏe mạnh, bệnh giảm dần và hồi phục.

Theo bác sĩ Hasegawa ở Đại học Ossaka – Nhật Bản thì tọa thiền phát triển sự tập trung dưới vỏ não và tạm ngừng hoạt động của vỏ não. Theo viện Đại học Cologne – Đức, thiền có tác dụng điều hòa trạng thái hoạt động của các tuyến nội tiết và của hệ thần kinh giao cảm làm cho cơ thể khỏe mạnh. Thiền sư Taisen Deshimaru ở Thiền viện của Nhật đã nêu trong tài liệu “Chân thiên” của ông là: Ai cũng thấy tọa thiền giúp cho cơ thể gia tăng sự mềm dẻo, khỏe mạnh và tâm trí được an vui. Do vậy, thiền là một phương pháp chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe không cần dùng thuốc.

DS.Nguyễn Viết Thọ

NGỒI THIỀN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VÀ TĂNG CƯỜNG SỨC KHỎE

Lương y VÕ HÀ

Thử nhìn xuống một hồ nước. Khi mặt hồ yên tĩnh, trong xanh ta dễ dàng nhìn rõ được mọi vật dưới đáy. Trái lại, khi làn nước gợn sóng, hình ảnh sẽ bị phản chiếu lệch lạc. Bộ não con người cũng giống như vậy. Khi tinh thần yên tĩnh, tập trung, tâm trí sẽ sáng suốt. Trái lại, khi có tạp niệm xen vào hoặc lúc lo âu căng thẳng, sự phán đoán sẽ kém chính xác. Sự căng thẳng sẽ làm mệt bộ não, cơ thể tiêu phí nhiều năng lượng mà việc giải quyết công việc lại kém hiệu quả. Một sinh viên thiếu tập trung sẽ khó tiếp thu bài giảng. Một công nhân đứng máy lơ đểnh sẽ dễ mắc tai nạn lao động. Một nhà nghiên cứu mà tinh thần không ổn định sẽ khó có thể hoàn thành công trình của mình. Ngoài ra, trong điều kiện phát triễn của nền văn minh công nghiệp với tính cạnh tranh cao, con người luôn phải đối mặt với nhiều loại áp lực thì việc phải gánh chịu stress làm giảm sức đề kháng và dễ dẫn đến nhiều bệnh tật là điều đáng lo ngại. Từ những thực tế nầy nhiều người đã tìm đến với thiền.

THIỀN LÀ GÌ?

Nói một cách đơn giản, thiền là những phương pháp giúp hình thành thói quen tập trung tư tưởng để làm đúng công việc mà chúng ta muốn làm và đang làm. Đặc biệt thiền giúp điều chỉnh lại tình trạng mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng gây ra.

Có nhiều phương pháp thiền khác nhau, nhưng tựu trung vẫn là giúp người luyện tập có thể tập trung chú ý vào một điểm ở trong hoặc ngoài cơ thể, vào một đề tài, một hình ảnh hoặc một câu “chú” nhất định nhằm đưa cơ thể tiến dần vào tình trạng nhập tĩnh khi tâm không còn bất cứ ý niệm nào.

CÁC BƯỚC THÔNG THƯỜNG CỦA MỘT LẦN NGỒI THIỀN

1. Chuẩn bị: Trước khi ngồi thiền, cần hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày để tư tưởng khỏi vướng bận; Tắm rửa sạch sẽ, nới lỏng quần áo; Chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.

2. Tư thế: Có thể chọn tư thế ngồi xếp bằng thông thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già. Lưng thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được.

Tư thế kiết già (thế hoa sen), đặc biệt thích hợp cho việc ngồi thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn tay nắm bàn chân phải từ từ gấp chân lại và đặt bàn chân lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng bàn chân ngửa lên trời. Kế tiếp dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân vào sát bụng, bàn chân ngửa lên trời.

Các đạo sư Yoga cho rằng vị thế khóa nhau của hai chân trong tư thế kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa ở dưới cùng của cơ thể, khiến dòng năng lượng có khuynh hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực dọc theo cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh. Những thí nghiệm khoa học về Yoga cho thấy chỉ cần ngồi tư thế hoa sen, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một sự thay đổi ở sóng não từ nhịp Beta khoảng 20 chu kỳ mỗi giây xuống nhịp Alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây. Nhịp Alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh mẫn. Điều nầy có nghĩa là tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh chưa kể đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền.

Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận của y học cổ truyền khi biết rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng chân trái đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao ở chân phải (huyệt Tam âm giao ở chỗ lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng 6cm). Như vậy, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt Tam âm giao sẽ được kích thích liên tục. Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Tỳ, Can và Thận nên tác động kích thích này sẽ có tác dụng “thông khí trệ”, “sơ tiết vùng hạ tiêu” và điều chỉnh những rối loạn nếu có ở những kinh và tạng có liên quan, đặc biệt là tác dụng “Dưỡng âm kiện Tỳ” và “Sơ Can ích Thận” mà các thầy thuốc châm cứu đều biết khi tác động vào huyệt này. Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, những bệnh nhân “Âm hư hỏa vượng” hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều và những phụ nữ đang ở tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận được hiệu quả khi ngồi vào thế kiết già.
3. Giảm các kích thích giác quan: Một trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu. Người xưa gọi là “bế ngũ quan”.

Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy chỉ cần nhắm mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50% các kích thích từ bên ngoài. Do đó, nên nhắm mắt lúc ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm không có sự căng cơ ở vùng mặt.

4. Giãn mềm cơ bắp: Ngày nay, khoa học đã biết rất rõ tác động qua lại giữa 2 yếu tố thần kinh và cơ. Khi thần kinh căng thẳng, trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Ngược lại, nếu điều hòa trương lực cơ bắp ở mức thư giãn thì thần kinh cũng sẽ được ổn định. Chúng ta dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát một người đang giận dữ. Khi tức giận, gân cổ nổi lên, cơ bắp căng cứng, bàn tay nắm chặt…; đó là lúc thần kinh quá căng thẳng. Ngược lại, hãy nhìn một người đang ngồi ngủ gật trên xe. Lúc người này thiếp đi là lúc thần kinh ở mức thư giãn, tâm không còn ghi nhận ý niệm gì cụ thể và cơ bắp cũng giãn mềm nên đầu dễ dàng ngoẹo sang một bên. Vì vậy, trong quá trình hành thiền, việc chủ động giãn mềm cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.

Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ bàn tay là đủ. Điều này căn cứ vào hai quy luật: Thứ nhất, mặt và hai bàn tay là những vùng phản chiếu có các điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể, do đó nếu thư giãn được vùng mặt hay hai bàn tay sẽ thư giãn được toàn thân. Thứ hai, theo học thuyết Paplop, khi tập trung gây ức chế thần kinh một vùng hoặc một điểm ở vỏ não (qua hiệu ứng thư giãn) thì sự ức chế này sẽ lan tỏa gây ức chế toàn bộ vỏ não.

5. Tập trung tâm ý: Đây là giai đoạn chính của buổi hành thiền. Như đã nói ở phần trên, thiền chính là sự tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào. Để thư giãn thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình trạng tập trung vào điểm hoặc vào đề mục tập trung trong một thời gian nhất định là đủ. Điều quan trọng là nên tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau một thời gian, khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền thì việc ngồi vào tư thế, nhắm mắt, việc đầu lưỡi chạm nhẹ nướu răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp sẽ hình thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập vào trạng thái thiền định.

Về điểm để tập trung tư tưởng, một vị trí ở vùng bụng dưới mà nhiều trường phái thường chọn làm điểm tập trung khi ngồi thiền là huyệt Đan điền, cách dưới rốn khoảng 3cm. Nên tập trung vào điểm này vì nhiều lẽ.

Theo y học cổ truyền, “thần đâu khí đó”. Do đó, khi tập trung vào một điểm ở vùng dưới cơ thể thì khí và huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới, làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, dễ dẫn đến nhập tĩnh.

Đan điền còn gọi là Khí hải hay Khí huyệt, ngụ ý là nơi “luyện thuốc”, là “bể chứa khí”. Đan điền là một huyệt quan trọng trong việc luyện dưỡng sinh của các đạo sĩ, các nhà khí công. Có nhiều trường phái khác nhau và việc tu luyện rất phức tạp. Tuy nhiên, các công phu của đạo gia nói chung và việc phát sinh nội khí để chửa bệnh nói riêng đều dựa vào bí quyết “hồi quang nội thị” hoặc “ngưng thần nhập khí huyệt”. Tâm không duyên ra ngoài, hướng đôi mắt vào trong gọi là hồi quang, tập trung thần vào bên trong cơ thể gọi là nội thị. Ngưng thần nhập khí huyệt chính là tập trung tâm ý tại Đan điền để phát sinh nội khí. Lâu dần chân khí được sung mãn sẽ khai thông các kinh lạc bế tắt hoặc bồi bổ cho ngủ tạng để tăng cường sức khoẻ.

Một số người tâm dễ xao động có thể cần một phương pháp kiểm soát tâm chặt chẽ hơn. Trường hợp này, nên kết hợp quan sát hơi thở với việc tập trung tại Đan điền bằng cách quan sát sự phồng lên và xẹp xuống tại bụng dưới. Lúc hít vào bụng dưới hơi phồng lên, lúc thở ra bụng dưới hơi xẹp xuống. Chỉ cần thở bình thường. Không cần quan tâm đến thở sâu hay thở cạn, đều hay không đều. Điều quan trọng ở đây là tập trung quan sát để biết rõ ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động phồng lên hay xẹp xuống ở bụng dưới. Sở dĩ chọn quan sát hơi thở ở bụng dưới mà không phải ở đầu mũi hoặc ở ngực là nhằm tạo quán tính thở sâu kết hợp với việc phát sinh nội khí ở Đan điền như đã dẫn ở phần trên. Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào. Điều này là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại Đan điền hoặc tiếp tục quan sát hơi thở vào ra là đủ. Lâu dần, những tạp niệm sẽ bớt đi, thời gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ hơn, cho đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi thở. Nếu thường xuyên đạt đến tình trạng này, có nghĩa người tập đã tiến được một bước rất dài. Không chỉ là không bệnh tật mà còn là sự tự tin, cảm thông và hoà hợp để dần dần đạt đến điều mà người xưa gọi là thiên nhân hợp nhất.

6. Xả thiền: Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.

Việc xả thiền tùy thuộc vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.

NGỒI THIỀN CÓ GÂY NGUY HIỂM GÌ KHÔNG?

Một vấn đề cuối cùng mà những người mới tập thiền thường thắc mắc là liệu ngồi thiền có gây nguy hiểm gì không? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào phương pháp và động cơ của việc ngồi thiền. Một số phương pháp thiền có phối hợp với vận khí hoặc có sự hỗ trợ khai mở một số trung tâm lực trong cơ thể nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sinh khí và gia tăng nội lực. Các phương pháp này có thể gây những nguy hiểm đi kèm nếu người tập thiếu những kiến thức về khí công, về y học truyền thống hoặc không có đạo sư hướng dẫn để vận dụng và kiểm soát kịp thời nguồn năng lực mới phát sinh. Trái lại, nếu ngồi thiền để đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm trí, để thư giãn thần kinh và tăng cường sức khỏe, không vận khí, không bám víu vào bất cứ ảo giác, âm thanh hoặc hình ảnh nào thì không có gì nguy hiểm./.

Thiền

Tiến sĩ I.K.Taimni, gốc người Ấn độ, đã nhiều năm là giáo sự Hóa học ở Đại học Allahabad, chuyên hướng dẫn khảo cứu trong lãnh vực này. Nhiều tài liệu nghiên cứu của ông đã được xuất bản trong các tạp chí chuyên môn ở ngoại quốc. Ngoài công trình chuyên nghiệp ấy Tiến sĩ Taimni từ lâu đã quan tâm tới tôn giáo và triết học, ông là tác giả của nhiều quyển sách bao gồm Nhập môn hệ thống biểu tượng Ấn độ – Khoa học Yoga – Con người, Thượng đế và Vũ trụ, vốn là hội viên kỳ cựu của Hội Thông Thiên Học, ông đã phục vụ trong một số năm là Giám đốc Trường Minh triết tại trụ sở quốc tế của Hội.

MỘT SỐ KHÍA CẠNH CẦN QUAN TÂM CỦA SỰ THAM THIỀN

Từ ngữ “tham thiền” tượng trưng cho khá nhiều loại vận dụng tâm trí mà người ta chọn theo khi có một lý tưởng tâm linh thuộc một loại nào đó trong cuộc đời và muốn thực chứng lý tưởng ấy ít ra trong một chừng mực nào đó. Bởi vì hoạt động trí tuệ và giới luật trí tuệ liên quan tới việc tham thiền có một tầm cỡ rất rộng lớn, cho nên ở đây ta không dễ gì bàn tới đề tài này một cách có hệ thống và bao quát. Mong rằng những người nào đọc bài này đều đã quen thuộc với những khía cạnh tổng quát của sự tham thiền. Vì vậy chúng tôi chỉ xin hạn chế vào việc bàn luận về một vài khía cạnh cần quan tâm của tham thiền mà người ta nói chung là không hiểu, nhưng các khía cạnh ấy có tầm quan trọng sống còn đối với những người nào nghiêm túc về các vấn đề của cuộc sống nội tâm chứ không muốn thực hành tham thiền chỉ như một thói quen hằng ngày.
Ta cũng chẳng dễ gì định nghĩa được mục đích của tham thiền vì điều này còn tùy thuộc vào quá trình của trí tuệ, tính khí và sự tiến hóa tâm linh của mỗi cá thể. Nhưng nói một cách chung chung nhất thì ta có thể xác định rằng tham thiền có mục đích khiến cho phàm ngã thấp hèn tiếp xúc hữu thức với Chơn ngã cao thượng, nhờ vậy khiến cho phàm ngã càng ngày càng nhận biết được bản chất, nguồn gốc và định mệnh thiêng liêng của mình. Tất cả những người nào tham thiền đều đặn coi đó là một phần trong hệ thống giới luật tâm linh ắt phải tin rằng ẩn đằng sau thế giới vật lý có một thế giới tâm linh chân thực rực rỡ không thể tưởng tượng được; con người có thể tiếp xúc được với thế giới nội tâm ấy càng ngày càng thâm hậu chính là nhờ tham thiền. Bằng không thế, việc dấn thân vào cái loại hoạt động tâm trí ấy liệu có ích gì.
Thế giới Thực tại vốn ẩn tàng bên trong tâm trí của mỗi người cho nên ta có thể càng ngày càng biết đầy đủ về nó bằng cách từng bước thâm nhập vào các mức độ sâu kín hơn của tâm trí. Chính vì vậy mà trong mọi giới luật tâm linh chân chính người ta cần phải chẳng những bàn tới tâm trí theo nhiều cách khác nhau mà còn phải dùng tham thiền để thâm nhập vào những mức độ sâu kín của nó.
Nhờ vào hoạt động tâm trí vốn bị hạn chế trong điều có thể được gọi là mặt phiến diện của sự vật, ta có thể thu lượm được kiến thức thông thường qua việc quan sát những hiện tượng vật lý, thu thập những dữ liệu của giác quan rồi xử lý những dữ liệu ấy nhờ vào các qui trình của tâm trí như so sánh, lý luận v.v. . . Nhưng bằng cách ấy ta không thể đạt được sự hiểu biết liên quan tới các cõi tinh vi vô hình có bản chất tâm trí vốn ẩn tàng bên trong thế giới vật lý. Ta cần phải thâm nhập vào những mức độ sâu kín của tâm trí và tâm thức nhờ có những pháp môn xác định vốn là một phần của giới luật theo khoa Yoga.
Ta có thể hiểu sự khác nhau giữa hai loại hoạt động trí tuệ này bằng cách so sánh nó với kỹ thuật bơi. Một cá nhân nào đã học bơi trên mặt nước ắt có thể thám hiểm bất cứ điều gì có mặt trên mặt nước. Nhưng ẩn bên dưới mặt nước của đại dương ở đủ thứ độ sâu và ở nhiều nơi khác nhau cũng có vô số loại thế giới. Y chỉ có thể tiếp xúc với những thế giới này và khảo cứu về chúng khi y đã học cách lặn bên dưới mặt nước để thâm nhập vào những mức nước sâu hơn. Quá trình lặn hơi khác với quá trình bơi thông thường trên mặt nước có liên quan tới một loại khác về kỹ thuật và các vấn đề. Sự khác nhau giữa hoạt động trí tuệ bình thường và tham thiền cũng có bản chất giống như thế.
Suy nghĩ thông thường – ngay cả khi sâu sắc và có mục đích – cũng chỉ dính líu tới các hoạt động của tâm trí trên bề mặt. Trong việc lý luận nghiêm túc vốn có lẽ tiêu biểu cho dạng lý luận cao nhất và khó khăn nhất của loại hoạt động trí tuệ này, tâm trí vận động một cách có kỹ luật; thế nhưng ta có thể bảo rằng việc vận động ấy mang tính hời hợt. Đó không phải là sự vận động càng ngày càng đi sâu xuống của tâm trí. Tâm trí có thể dấn thân vào hoạt động trí tuệ kéo dài và tập trung, nhưng chừng nào nó còn vận động theo kiểu này thì chừng ấy nó chỉ có thể bàn tới và biết được những gì liên quan tới sinh hoạt nơi ngoại giới của ta. Nhờ có loại hoạt động trí tuệ này mới có thể có được mọi thành tựu trong địa hạt tâm trí, ngay cả những thành tựu có bản chất rất đáng kể. Nhưng bằng cách này ta có thể thăm dò và biết được những thế giới tinh vi hơn và có thực hơn vốn ẩn tàng bên trong các lớp sâu thẳm hơn của tâm trí. Việc này đòi hỏi phải có một loại hoạt động tâm trí khác mà ta có thể gọi là sự vận động theo chiều sâu của tâm trí. Trong loại hoạt động tâm trí này, tâm trí vẫn hoạt động nhưng đồng thời cá nhân lại ra sức càng ngày càng đi sâu vào các lớp thâm thúy hơn của nó. Muốn hiểu trọn vẹn được thế nào là sự vận động theo chiều sâu của tâm trí thì ta phải nghiên cứu Yoga Sutras.
Ý tưởng nêu trên có thể cung cấp một manh mối về bí quyết của việc tham thiền thành công và chỉ cho ta thấy tại sao (trong trường hợp đa số mọi người) tham thiền lại không thể thành tựu được mục đích chân thật của mình, nghĩa là càng ngày càng tiếp xúc với những lớp sâu hơn của tâm trí do năng lực nhận thức càng ngày càng xuyên suốt sâu hơn. Sự vận động của tâm trí theo chiều sâu vốn cần thiết cho việc tham thiền thành công, chẳng những đòi hỏi loại vận động hơi khác mà còn cần có nhiều sự tinh tấn hơn nữa.
Hầu hết chúng ta vốn đã học cách sử dụng tâm trí một cách hữu hiệu, lại không nhận thức được rằng sau một thời gian thì việc vận dụng tâm trí qua một loại vận động đặc thù nào đó ắt trở nên hầu như không cần cố gắng; thật vậy ta không thể thật sự hữu hiệu chừng nào việc ấy còn chưa trở nên không cần cố gắng. Người diễn thuyết lão luyện có thể nói thao thao bất tuyệt chừng nào y đã làm chủ được kỹ thuật chọn lựa và sắp xếp ý tưởng của mình trong khi y đứng diễn giảng không ngừng nghỉ. Những ý tưởng cho dù là tầm thường hay sâu sắc đều đã có sẵn trong tâm trí của diễn giả rồi, có lẽ trước đó nó đã được diễn tả cả trăm lần; vấn đề chỉ còn có việc là lượm lấy và tuyển chọn những ý tưởng ấy rồi liên tục diễn đạt chúng. Ký giả chuyên đề điêu luyện cũng cầm bút viết hết trang này tới trang khác phần bình luận mà hầu như chẳng cố gắng gì. Y chỉ chọn lựa những ý tưởng từ cả đống tài liệu đã được in ấn từ những phương tiện xuất bản khác rồi diễn tả chúng theo một kiểu nổi bật một khi kỹ thuật thu thập ý tưởng và diễn tả chúng một cách hữu hiệu đã được quán triệt thì phần còn lại cũng dễ thôi.
Ta ắt thấy rằng việc này cũng chẳng khác gì việc học bơi. Một khi người ta đã biết được bí quyết đơn giản giữ cho mình nổi trong nước thì việc bơi chỉ còn là vấn đề sức khỏe bền bỉ và một vài sự vận động của cơ thể. Lúc bấy giờ không cần có cố gắng đặc thù nào theo đúng nghĩa của từ này để tiếp tục bơi.
Hầu hết hoạt động tâm trí của chúng ta đều có bản chất như vậy. Tâm trí của ta vận động theo những lối mòn quen thuộc hoặc được vận động hầu như không cố gắng để làm những công việc mà ta đã quán triệt được kỹ năng của nó tới một mức độ thỏa đáng. Ta không cần phải giữ cho nó được tập trung hoặc dùng nỗ lực của ý chí để đẩy nó đi theo một hướng hoặc dùng một sự thu hút áp đảo của một đối tượng để hoàn thành hoặc biết được việc gì. Vì vậy, nó không quen với nỗ lực tâm trí bền bỉ cần phải được dẫn dắt bởi một mục đích xác định và có động cơ thúc đẩy là một sức ép liên tục của ý chí hoặc sức hấp dẫn – đây chính là điều cần thiết để ta tham thiền thành công.
Vì vậy chỉ ngồi theo một tư thế nào đó rồi bắt tâm trí nêu ra một loạt liên tiếp những ý tưởng mạch lạc về một đề tài cho sẵn đâu phải là thực sự tham thiền, mặc dù hầu hết mọi người đều làm như vậy. Ta có thể thấy rằng cái loại vận dụng tâm trí này thực ra cũng giống như viết một bài tiểu luận mà không dùng giấy bút hoặc thuyết trình mà không nói nên lời. Cái việc thực hành thông thường là để cho tâm trí vận động theo những lối mòn quen thuộc do việc lập đi lập lại những kinh điển trong tôn giáo cũng không thể được coi là tham thiền theo đúng nghĩa của nó, mặc dù hầu hết những người mộ đạo đều làm như thế khi họ “tham thiền” trong những buổi hành trì tôn giáo thường nhật. Chúng ta có khuynh hướng xếp mọi loại hoạt động cần thiết vào một khuôn khổ thói quen hằng ngày đến nỗi mà tâm trí chẳng cố gắng bao nhiêu để chọn lựa giữa những phương án hành động hoặc suy tưởng. Điều này cũng giải thích cho việc các nghi thức để thi hành những bổn phận tôn giáo đã trở nên quen thuộc với dân chúng đến mức nào. Người ta ít ra cũng cho rằng đó là một dạng sinh hoạt tôn giáo nếu không phải là thực chất của sinh hoạt tôn giáo. Nhưng bất cứ ai cũng có thể cho rằng tình huống như thế thì tất nhiên sẽ gây ra sự ngưng trệ. Có lẽ con đường phát triển tâm linh chẳng có một trở ngại nào lớn hơn là cái ý thức hão huyền về sự thành tựu và yên ổn mà thói quen hằng ngày này đã gây ra.
Tại sao ta lại không thể tạo ra được trạng thái tâm lý cần thiết khi ta ngồi tham thiền? Chủ yếu là vì những điều mà ta muốn tham thiền về chúng không tạo cho ta được sự quan tâm sâu sắc và kịch liệt đúng mức. Ta có thể tưởng tượng rằng mình muốn tìm ra thực tại mà ta tin rằng đang ẩn tàng bên trong những lớp sâu sắc hơn của tâm trí và tâm thức ta. Thế nhưng đây chỉ là một ý tưởng mơ hồ với một động cơ thúc đẩy là mơ ước cũng mơ hồ không kém. Chẳng có một chủ đích năng động và xác định nào, trong thâm tâm ta cũng chẳng có một ham muốn mãnh liệt nào để giải quyết những vấn đề của sinh hoạt nội giới và phát hiện được những điều bí nhiệm của kiếp sinh tồn. Muốn có được một ý niệm định tính về cái loại tâm trạng đặc thù ấy, ta cần phải nhớ lại sự vô cùng kịch liệt của chủ đích và tập trung vốn đặc trưng cho tâm trí của một nhà khoa học chẳng hạn như Edison khi ông đang làm việc phát minh khoa  học. Tâm trí ông bị thu hút sâu sắc vào việc theo đuổi mục đích của mình đến nỗi ông thậm chí quên ăn quên ngủ. Đó là loại trạng thái tâm trí rất cần thiết cho việc thực sự tham thiền; khi nó hiện diện thì kết quả ắt xuất hiện nhanh chóng mà Yoga Sutras (I.21) đã nêu rõ.
Tình trạng này không hiện diện bởi vì chúng ta chưa làm tròn một vài điều kiện căn bản để bước trên con đường phát triển tâm linh nhờ vào tham thiền. Chúng ta chưa thật sự biết được những hão huyền và hạn chế ghê gớm đối với cuộc sống hiện nay của chúng ta; vì thế cho nên ta đâu có một sự thôi thúc thực sự để thoát ra khỏi cái thân phận ấy. Sự quyến rũ của những sự vật hạ giới quá mãnh liệt và tạo một lực thường xuyên khiến cho tâm trí bị xao lãng không thể chống cự nổi. Tâm trí chưa được rèn luyện thỏa đáng để thành tựu được những nhiệm vụ xứng đáng mà chúng ta đã đặt ra cho mình. Lý tưởng chưa đủ mạnh để thu hút chúng ta. Tóm lại, ta chưa có được những điều kiện cần thiết cốt yếu.
Để tạo ra được tình huống đúng đắn nhằm thực hiện tham thiền cho có kết quả, mọi hệ thống tu dưỡng bản thân chân chính đều khăng khăng nhấn mạnh tới việc trước hết phải rèn luyện tâm trí và tu tâm dưỡng tính [1] . Trong tác phẩm Sadhana-Chatushthaya nổi tiếng (đó là hệ thống tu dưỡng bản thân gồm bốn giai đoạn) trước hết ta cần có được bốn đức tính căn bản để bước trên Thánh đạo. Tiếng Bắc phạn gọi chúng là Viveka, Vairagya, Shattsampatti và Mumukshattva [2]. Chỉ khi ta đã tiến bộ khá cao thì ta mới được thực hành sự tham thiền cực lực để mở ra những kênh dẫn giữa phần thấp hèn và phần cao thượng, và xác lập được trung tâm ý thức trên các cõi biểu lộ tâm linh.
Muốn bước trên con đường Raja Yoga mà Yoga Sutras phác họa, người tầm đạo trước hết phải thực hành Bahiranga tức là Yoga Ngoại giới, để chuẩn bị dọn mình thực hành tham thiền qua ba giai đoạn Dharana, Dhyana và Samadhi [3]. Thậm chí người ta cũng chẳng trông mong y sẽ bắt đầu thực hành Dharana (định trí) chừng nào y chưa quán triệt được kỹ năng thứ tư là Pranayama (điều khí) [4] như Sutra II.53 nêu rõ.
Trong mọi hệ thống Yoga thì người ta đều trông mong ứng viên phải có được những đức tính căn bản để thực hành Yoga, ngay cả khi người ta không đặc biệt nói tới nó. Nếu y chưa có được những đức tính ấy ở một mức độ thỏa đáng thì trước hết y phải trải qua sự rèn luyện nghiêm ngặt để đạt mục đích ấy. Chỉ có những hệ thống Yoga giả hiệu mới sinh ra chuyện gọi là các bậc Sư phụ (Gurus) nhận đệ tử và khai tâm cho họ những điều bí nhiệm về “tham thiền siêu việt” tức Samadhi mà thậm chí chẳng tìm hiểu xem liệu học trò đã có được những đức tính cần thiết hoặc năng lực để đạt mục đích ấy chưa. Bởi vì nếu làm như thế thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới số thân chủ mà mình cần thu hút.
Những người trong chúng ta không thể tham thiền thành công thì nên xem lại tâm hồn mình một chút qua quá trình tự quán. Rất có thể là lúc bấy giờ ta tự phát hiện ra rằng nguyên nhân căn bản của sự thất bại này có lẽ là thiếu mục đích nghiêm túc và thiếu lòng tha thiết. Chúng ta bắt đầu thực hành tham thiền trước khi ta thực sự muốn những sự việc vốn là mục đích của tham thiền. Như vậy có khác gì đặt cái cày trước con trâu. Ta phải có những nan đề thực sự thì nhiên hậu ta mới tiến hành giải quyết những nan đề ấy. Mục đích của tham thiền là giải quyết những nan đề của sinh hoạt nội giới bằng cách thâm nhập vào những lớp sâu sắc hơn của tâm trí và tâm thức, chỉ ở nơi đó thì ta mới có thể tìm ra được giải pháp của những nan đề này. Nếu chúng ta chưa gặp những nan đề ấy thì việc ngồi thiền hết ngày này sang ngày khác để giải quyết những nan đề ấy phỏng có ích lợi gì. Tham thiền tự thân nó không phải là cứu cánh. Nó chỉ là một phương tiện để đạt tới cứu cánh.
Về vấn đề này tôi chợt nhớ tới thâm tâm của nhiều học viên ghi danh đại học để khảo cứu. Họ muốn nghiên cứu, nhưng nếu ta hỏi họ muốn giải quyết nan đề nào thì họ ngắc ngứ không trả lời được. Bạn phải cung cấp cho họ một nan đề để họ tự nghiên cứu. Trong sinh hoạt học thuật thì ta có thể muốn nghiên cứu trước hết rồi nhiên hậu mới tìm kiếm một nan đề, bởi vì mục đích của sinh viên như vậy thực ra không phải là nghiên cứu mà là được rèn luyện để nghiên cứu, việc rèn luyện ấy ắt giúp cho họ sau này để đảm nhiệm được việc nghiên cứu thực sự. Nhưng đối với một người tầm đạo vốn phải thâm nhập vào những địa hạt tâm trí mà chưa ai biết tới chỉ bằng vào những nỗ lực của chính mình thì điều này rõ rệt là không thể được. Trong trường hợp của y thì không có một sáng kiến nào, do đó cũng chẳng có gì thôi thúc tâm trí y phải rời bỏ cái lãnh vực của điều đã biết để thâm nhập vào bên trong chính mình nhằm phát hiện ra điều ẩn tàng bên trong những tầng lớp tâm thức sâu thẳm hơn.
Chỉ khi các nan đề đã có thực do kết quả của việc ta suy tư sâu sắc và trải nghiệm đầy đủ – chứ không phải là những vấn đề mà ta tạo ra một cách nhân tạo hoặc hùa theo những người khác – thì quan năng trực giác mới bắt đầu hoạt động trong việc tham thiền và tri thức tâm linh (vốn soi sáng cho những nan đề ấy) mới bắt đầu tự nhiên trào dâng từ bên trong.
Ta không nên quên rằng khi sử dụng tâm trí để tham thiền thực sự, ta đang ra sức bàn tới những thực tại của cuộc đời, cho nên chẳng những phải có những nan đề thật sự mà còn phải có một thôi thúc thật sự nhằm giải quyết những nan đề ấy. Trực giác chỉ có thể vận hành trong cái loại môi trường tâm trí thực tiễn này. Nếu không có được lòng thành và sự tha thiết ở một mức độ thỏa đáng thì những yêu cầu căn bản nhất để có được tri thức trực giác từ nội tâm ắt là khiếm khuyết cho nên tham thiền chỉ khô khan chẳng có kết quả gì và gây bất đắc chí.
Khi các nan đề của sinh hoạt nội giới trở nên có thực đối với ta thì chúng chẳng những thấm nhuần trọn cả cuộc sống của ta mà việc giải quyết chúng còn trở nên một vấn đề khẩn cấp. Ngay cả khi hạ trí đang dấn thân vào những hoạt động nơi ngoại giới thì thượng trí ở phía bối cảnh vẫn thường xuyên suy gẫm về những nan đề này để tìm ra giải pháp. Tiếng Bắc phạn gọi quá trình thường xuyên suy gẫm về một nan đề là Bhavana, đây là một bộ phận cần thiết của việc thực sự tham thiền khiến cho quan năng trực giác bước vào hoạt động. Hiệu quả của sự thường xuyên suy gẫm này còn được tăng cường thêm nữa nhờ vào Japa; trong qui trình ấy mãnh lực hiện diện trong “âm thanh” được sử dụng để củng cố tác dụng của tư tưởng. Theo sự minh giải của những gì nêu trên, học viên ắt có thể hiểu được ý nghĩa của câu kinh I.28 trong Yoga Sutras.
Ta cần lưu ý cẩn thận rằng mọi tri thức liên quan tới các thực tại tâm linh của cuộc sống đều không có được do quan năng trí tuệ biết lý luận mà có được lại do một quan năng tâm linh ít ai biết tới và rất khả nghi, đó là trực giác. Trực giác chân chính đâu phải là một năng lực phỏng đoán về sự thật một cách đầy bí hiểm và không đáng tin cậy theo sự giả định thông thường của những người cốt yếu theo quan điểm duy vật. Đó là quan năng nhận thức hoặc tri thức trực tiếp về sự thật vốn chỉ đạt kết quả khi tâm thức của người tìm kiếm đã ít nhiều chỉnh hợp với Tâm thức Thiêng liêng. Mọi thực tại của kiếp sinh tồn nơi ngoại giới đều hiện diện trong thực tướng nơi Tâm thức này. Khi ta vận dụng trực giác bình thường trong những giai đoạn sơ cơ thì có thể nói là tâm thức của người tìm kiếm nhảy vọt qua những hàng rào trí năng và có thể biết được bất kỳ thực tại nào bằng cách trực tiếp nhận thức ít ra là cũng một phần. Trong trạng thái Samadhi (đại định) thì kết quả giống như vậy được tạo ra một cách có kiểm soát và hợp khoa học; vì vậy việc nhận thức được viên mãn và không còn khiếm khuyết. Chính bản chất của mọi sự kiện tâm linh thuộc kiếp sinh tồn là ở chỗ người ta không thể biết được chúng bằng cách nào khác thế. Những kẻ nào mưu tìm bí mật tối hậu của vũ trụ bằng kính viễn vọng hoặc bí mật tối hậu của kiếp nhân sinh bằng kính hiển vi thì do chính bản chất của sự vật, ắt chẳng bao giờ thành công được.
Vì trực giác là quan năng nhận thức trực tiếp không cần đến những dụng cụ trung gian cho nên nó thoát khỏi những ảnh hưởng xuyên tạc và sai lầm tất yếu mà các hiện thể của tâm thức đã chèn vào trong đó. Mọi sự khiếm khuyết có thể có trong việc vận dụng trực giác là do phương tiện khiếm khuyết của tâm thức mà trực giác được vận dụng thông qua đó và tri thức được thuyết giải thông qua đó. Nếu tâm trí thuần khiết và hài hòa thì việc nó kém phát triển không thành vấn đề trừ phi các kết quả nhận thức phải được thuyết giải và bày tỏ bằng trí năng để cho mọi người khác thông cảm được. Nhiều vị thánh có trình độ phát triển tâm linh rất cao lại mù chữ. Việc thiếu trí năng lão luyện chỉ ngăn cản họ không thuyết giải và truyền đạt thỏa đáng được cho người khác hiểu biết sự thật của sinh hoạt nội giới chứ không ảnh hưởng tới nhận thức của họ về nhận thức ấy.
Tính hữu hạn của quan năng trực giác còn tùy thuộc vào năng lực xuyên suốt của nó. Năng lực của nó càng xuyên suốt (Yoga Sutras gọi là Viveka-khyati) thì nó càng có thể nhận thức được các thực tại sâu sắc hơn và tầm nhìn của nó bao quát hơn. Nó đạt tới đỉnh cao của năng lực xuyên suốt khi nó có thể thâm nhập được qua mọi rối rắm và đủ thứ chuyện lộn xộn của kiếp sinh tồn biểu lộ để nhận thức được rằng cả mớ rối rắm ấy đều bắt nguồn và hiện hữu bên trong Thực tại Nhất như. Như vậy việc phát triển trực giác không phải là vấn đề thâu tóm hoặc kiến tạo một điều gì đó mà là vấn đề mài giũa năng lực nhận thức sao cho nó có thể thấu suốt cái mớ bòng bong những điều hão huyền và chướng ngại vốn làm mờ tối tầm nhìn tâm linh của ta. Chính vì vậy khi bước trên Thánh đạo việc tẩy trược, xả bỏ và hài hòa hóa đóng vai trò quan trọng hơn thu lượm kiến thức.
Chính vì trực giác đóng vai trò quan trọng như thế trong tham thiền cho nên cũng bõ công thôi khi ta nói dông dài một chút về cách thức để cho trực giác trực tiếp xuất hiện nơi tâm thức trong các giai đoạn sơ cơ. Chỉ trong trạng thái Samadhi đại định thì ta mới có nhận thức trực tiếp về các thực tại của sinh hoạt tâm linh theo đúng nghĩa; thế nhưng người tầm đạo không cần chờ tới giai đoạn cao như thế trong việc rèn luyện Yoga thì mới nếm trải được tính chất nào đó của tri thức trực giác. Ta có thể trải nghiệm nhất định về cái loại tri thức ấy miễn là điều kiện để cho quan năng trực giác vận hành ít ra cũng có mặt trong một chừng mực nào đó. Thật vậy, chẳng những ta không chỉ có thể mà còn cần phải có cái loại trải nghiệm này bởi vì nó chứng tỏ rằng đường thông thương giữa bản chất tâm linh và bản chất trí tuệ đã bắt đầu khai mở; thế là ta đã làm tròn được mục đích chân chính của tham thiền ít ra cũng được một phần nào.
Thậm chí khi lâu lâu mới trải nghiệm được một điều có bản chất như vậy cũng là một điều gì đó gây phấn khởi một cách phi thường bởi vì nó bảo đảm cho ta thấy bên trong ta có một nguồn tri thức tâm linh không thể cạn kiệt và chúng ta có thể rút ra được từ nguồn ấy một điều gì đó bằng cách càng ngày càng chỉnh hợp với nó. Cố nhiên, ta có thể tin vào mọi điều đó, coi là một điều khả hữu về mặt lý thuyết nhưng nhận thức được tin tưởng của ta thật ra là có cơ sở và có thể thực hành nó một cách hữu hiệu thì lại là một chuyện khác hẳn. Khi có sự đoan chắc nhất định như vậy thì ta mới càng ngày càng quay vào bên trong để mưu tìm mọi thứ mà ta cần thiết cho sự tiến bộ tâm linh; thế là đặt nền móng cho một sinh hoạt huyền bí chân chính tức là đặt trọng tâm vào Thiên tính của mình.
Muốn hiểu được bằng cách nào mà quan năng trực giác lại vận hành được trong những giai đoạn sơ cơ của sự tiến bộ tâm linh, ta cần có một ý niệm nào đó về sự khác nhau giữa tri thức tâm linh theo như nó tồn tại trên cõi Tinh thần và tri thức tâm linh theo như nó xuất hiện trên cõi hạ trí. Trên các cõi cao, tri thức tâm linh không bị hạ trí ngăn cản và tồn tại dưới dạng chân thực Svarupa. Trên các cõi thấp, nó phải khoác lấy hạ trí và chỉ có thể tồn tại dưới dạng Rupa, tức các khái niệm và ý niệm. Vì vậy, khi tri thức tâm linh xuống tới cõi hạ trí, nó phải có một hiện thể là một khái niệm hoặc tập hợp các ý niệm cũng giống như Atma tức Tinh thần phải có một thể xác khi muốn hoạt động trên cõi hồng trần. Trong tình huống ấy, tri thức tâm linh chân chính đóng vai trò cái thần tức linh hồn của khái niệm trí tuệ hiện diện trong hạ trí. Nhưng có một sự khác nhau rất to lớn giữa một khái niệm như thế mà có được cái thần hoặc linh hồn và tỏa chiếu rực rỡ qua tri thức tâm linh, khác hẳn một khái niệm do tâm trí tạo ra bởi kết quả của việc chỉ nghiên cứu lý thuyết suông chứ không có giác ngộ tâm linh chút nào. Khái niệm có thần tức có linh hồn vốn sống động, năng động và có ý nghĩa lớn lao đối với người tầm đạo. Khái niệm lý thuyết suông chỉ là một mớ tập hợp vô hồn cho nên chẳng thể cung ứng được bất kỳ sự linh hứng hoặc thỏa mãn nào cho cá thể.
Những nhận xét nêu trên đưa ra được một lời giải thích về cách thức mà tri thức có bản chất tâm linh thường trào dâng từ bên trong do kết quả hoạt động của quan năng trực giác. Nó dường như xuất phát từ chẳng ở đâu cả, không có gì cảnh báo và khi lần đầu tiên tác động vào tâm trí thì nó có vẻ chỉ là hư vô, không có hình tướng hoặc thực chất. Nhưng nó dường như rất nhanh chóng kết tinh thành một kiểu mẫu bao gồm những ý tưởng vốn cung ứng cho nó một hình tướng trên cõi trí tuệ và được dùng để thể hiện ý nghĩa của nó.
Qua việc nó biểu hiện như vậy thông qua hạ trí, người ta nhớ tới một viên pháo hoa được bắn lên bầu trời dường như thể không từ đâu mà ra, thế rồi bùng phát thành một trận mưa các điểm ánh sáng màu chói sáng đẹp đẽ trên nền trời màu đen. Có một lúc nó chỉ là một vệt sáng trên bầu trời, báo hiệu sự phô trương lộng lẫy ánh sáng và màu sắc, rồi đến một lúc khác nó biến thành sự phô bày những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời, lộ ra vẻ rực rỡ ẩn tàng trong lòng nó.
Chính đặc trưng của tri thức trực giác xuất hiện theo kiểu này khiến cho nó được tâm trí chấp nhận ngay tức khắc vào lúc mà nó lần đầu tiên tác động lên tâm trí. Mọi điều cần thiết cho điều này là hướng dẫn tâm trí nó chú ý đầy đủ vào việc ấy. Bấy giờ tâm trí ghi nhận rồi tự nó tạo ra hình tướng một cách tự nhiên nhanh chóng và không cần cố gắng. Việc biểu lộ trong sáng và không cần cố gắng này tiết lộ nguồn gốc của nó là trực giác và vốn là một phần trong bản chất cố hữu của nó. Nhưng nó muốn biểu hiện thì cần phải có một tâm trí tiếp nhận đầy cảnh giác, tâm trí này sẵn sàng có đủ khả năng cung cấp cho nó một hình tướng tổng hợp và duy trì bức tranh ấy ngay trong lúc đó. Nhà thơ phải chuyển hóa nó ngay thành một bài ca tuyệt vời, nhạc sĩ phải  biến hóa nó thành một bản hòa âm, nhà toán học phải chuyển nó thành một định đề, triết gia phải biến nó thành một khái niệm, họa sĩ phải biến nó thành một hình tướng cụ thể. Bất kỳ sự chậm trễ hoặc thiếu chú ý nào đều hầu như chắc chắn có nghĩa là một vị khách viếng thăm từ cõi trời sẽ thối lui bỏ đi và có lẽ ít tới viếng thăm hơn nữa.
Cách thức lưu nhập mà ta nói bóng gió trên đây chỉ là một trong những cách thức khiến cho tri thức trực giác có thể xuất hiện bên trong tâm trí của người tầm đạo. Những đường lối của Tinh thần thật là bí nhiệm, không thể tiên đoán được và không phải bao giờ cũng tuân theo một kiểu mẫu đã có sẵn, mọi sự truyền thông như thế đâu phải lúc nào cũng liên kết với cùng một mức độ kịch liệt hoặc sáng suốt. Nhưng mỗi khi mà tri thức từ các cõi cao giáng xuống thì vẫn có dấu hiệu nổi bật của Tinh thần và người tiếp nhận bao giờ cũng có thể nhận ra được nó. Khi Tinh thần truyền thông thì không thể có sự lẫn lộn hoặc bối rối mà chỉ có sự giác ngộ, mặc dù các mức độ khác nhau về giác ngộ ấy còn tùy thuộc vào năng lực của người tiếp nhận.
Ta không nên lẫn lộn tri thức xuất hiện theo kiểu này với những trải nghiệm có một bản chất thông linh, vốn mang hình thức các linh ảnh và đủ loại âm thanh bắt nguồn nơi bản chất thông linh của con người. Mặc dù nói chung là giống như phép lạ nhưng những thứ ấy không đáng tin cậy và không chắc chắn bằng mọi biểu lộ của Tinh thần. Sự kiện chúng thường gây ra sự kích động và những ý tưởng phù phiếm về sự tiến bộ tâm linh của con người cũng đủ chứng tỏ nguồn gốc hạ đẳng của nó. Mọi biểu hiện của Tinh thần đều liên quan tới một sự ổn định khôn tả và một tính vô ngã, cho nên mặc dù có sự an bình và quyền năng lưu nhập thì vẫn không có bất kỳ loại kích động nào.

———————-
Chú Thích
[1] Hai yếu tố cần thiết để tham thiền có kết quả.
[2] Bốn điều kiện tương tự như quyển Dưới Chơn Thầy dạy.
[3] Để thực hiện được ba giai đoạn nội giới này thì cần phải thực hiện được năm giai đoạn ngoại giới chuẩn bị là Yama (Giới), Niyama (Luật), Pranayama (Điều tức), Asana (Tư thế), Pratyahara (Kiểm soát giác quan).
[4] Thực hiện được Dharana thì mới có thể có được Dhyana (Tham thiền) và Samadhi (Đại định).

Thiền là nét văn hoá đặc sắc của phương Đông. Từ đầu thế kỷ 20, sau khi du nhập vào phương Tây, thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận như một phương pháp chữa lành những căn bệnh tâm lý của xã hội hiện đại.
Nhiều nghiên cứu khác nhau của các giáo sư Mỹ, Nhật, Pháp… cho thấy thiền giúp cải thiện các chức năng sinh lý của cơ thể, giúp phát triển trí não, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và cải thiện lão hoá; trị các chứng bệnh do căng thẳng tâm lý gây ra, giúp cải thiện những thói quen xấu. Đối với những người bình thường, thiền giúp tinh thần thoải mái, lạc quan, nâng cao chỉ số thông minh, cảm xúc… những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”.
Các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau

“Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.”
Theo đạo Phật, hành giả nhờ Định (sa. samādhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ năm chướng ngại (ngũ cái五蓋, sa. nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (tứ thiền định) của sắc giới (sa. rūpadhātu, xem Tam giới), đạt Lục thông (sa. ṣaḍabhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi lậu hoặc (sa. āsrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (sa. deva) liên hệ.
Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.

Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả buông xả lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng, tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn vì bao hàm nhân tố chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.

Thiền để tăng sức đề kháng

Ngày nay, nhiều người đã lạm dụng quá mức việc điều trị bằng thuốc mà quên đi sức mạnh đề kháng bệnh tồn tại ngay bên trong của cơ thể mình.
Một số căn bệnh như SARS, cúm gia cầm, viêm màng não, nhiễm khuẩn do tụ cầu, bệnh than, tiêu chảy, dại, sốt xuất huyết, viêm phổi, dịch hạch, cúm và các bệnh nhiễm khuẩn khác là những nguyên nhân làm suy yếu hệ thống miễn dịch cơ thể. Khi cơ thể con người bị virus tấn công, hệ thống miễn dịch sẽ tự động tạo ra các thành tố (gọi là kháng thể) để chống lại virus, nhằm tiêu diệt các nguy cơ gây bệnh.
PGS.TS Lili Feng – chuyên gia về miễn dịch và sinh học phân tử (Đại học Y Baylor của Mỹ) – cho rằng: Tất cả các bộ phận trong cơ thể con người có mối liên quan một cách chặt chẽ đến lĩnh vực miễn dịch tinh thần. Miễn dịch tinh thần có thể tạo ra sự an bình trong tâm hồn, giúp cơ thể chống lại một số bệnh nào đấy. Muốn vậy, một trong những biện pháp huy động sức mạnh của hệ miễn dịch là sử dụng phương pháp thiền.
Ngày nay, nhiều người đã lạm dụng quá mức việc điều trị bằng thuốc. Cũng chính sự lệ thuộc vào thuốc ngày càng nặng nề, mà họ quên đi sức mạnh đề kháng bệnh tồn tại ngay bên trong của cơ thể mình. Điều quan trọng là phải bảo đảm cho hệ thống miễn dịch, luôn bảo vệ cơ thể tấn công lại các dịch bệnh.
Đối với những người thường xuyên rèn luyện cơ thể theo phương pháp thiền, sức để kháng của cơ thể sẽ được tăng lên, đồng thời giữ được sự cân bằng tâm lý và thư thái tinh thần, điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Khi thiền là lúc cơ thể con người được nghỉ ngơi thư thái. Sự nghỉ ngơi này thoải mái hơn khi chúng ta ngủ và năng lượng trong người được tích tụ lại, để nuôi dưỡng cơ thể cho những hoạt động tiếp theo. Trên thực tế, những người luyện cơ thể theo phương pháp thiền trong thời gian dài thường có lối sống lạc quan, tự tin và làm chủ bản thân trong cuộc sống.
Có nhiều hình thức thiền khác nhau, việc lựa chọn phương pháp nào cho phù hợp với bản thân là tùy thuộc vào lối sống, sức khỏe và sự tiện lợi của mỗi người. Lời khuyên của các chuyên gia y học là mỗi người nên luyện tập thiền hàng ngày, hoặc đều đặn vài ngày một lần bởi thiền là “vaccine của sức khỏe tinh thần”, giúp cho đầu óc con người tỉnh táo và minh mẫn. Không giống như các loại thuốc chữa bệnh, thiền không tạo ra các biến cố hay phản ứng phụ cho cơ thể con người sau mỗi lần tập luyện mà giúp cho cơ thể “giải độc”, sống lành mạnh, sảng khoái và khỏe mạnh.
(Theo TGPN)

Thiền là Phương Pháp Bồi Dưỡng Nhân Cách

Nhân cách thông thường được hình thành ngang qua sự hun đúc của các nền giáo dục, đạo đức, nghệ thuật v.v… nhưng điều đó chưa hẳn là hình thành một nhân cách trọn vẹn.
Trong dòng chảy cuộc sống, có một số người vì bị mê hoặc bởi các dục vọng, như danh lợi, quyền thế v.v… mà họ đành phải núp mình trong các nền giáo dục, nghệ thuật…, khi đứng trước mọi người họ luôn tỏ ra là một người có nhân phẩm cao thượng, hoặc hành vi trong sáng, nhưng thật chất trong tâm họ lại chứa đầy những dã tâm đáng sợ và những âm mưu quỉ quyệt. Chúng ta có thể gọi những người đó là những người có nhân cách hai mặt.
Do đó chúng ta không thể hoàn toàn tin tưởng các nền giáo dục, đạo đức, nghệ thuật có thể vun thành một nhân cách hoàn mỹ.
Những luân lý giáo dục, hoặc các tiêu chuẩn đạo đức, hoặc những thẩm mỹ nghệ thuật dù có cao đẹp đến đâu, chúng cũng là những phẩm chất được truyền dẫn từ bên ngoài vào mà thôi, cho đến những áp lực uy quyền cũng chỉ là những dục cầu bên trong cá nhân, tất cả đều không khế hợp với một nhân cách hoàn mỹ.
Thiền là phương pháp tốt nhất để bồi dưỡng nhân cách, bởi thiền là sự tự giác cao độ phát xuất từ nội tâm mà đạt được sự thăng hoa nhân cách. Giáo dục, đạo đức, nghệ thuật đối với người hành thiền mà nói, chúng chẳng có tác dụng gì; vì chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh, thời đại, và đối tượng. Thiền là trực nhận ra cái trạng thái tĩnh lặng, tự do vô biên tuyệt đối nơi mình, nên thiền không vay mượn ngoại duyên, cũng chẳng cần lập văn tự. Vì thế thiền là pháp môn huấn luyện tâm linh muôn đời không thay đổi.
Thực tập hành thiền là sự lột bỏ các lớp vọng niệm của cái tôi, giống như chúng ta lột bỏ thân cây chuối vậy, lột mãi lột mãi cho đến khi nào bóng dáng của cái tôi không còn nữa. Cho nên người hành thiền không cần phải trang sức, trau chuốt gì trước mặt người khác mà tự nó trong sáng; hoặc cũng không vì sửa đổi mà phải chấp nhận phục tùng những áp lực bên ngoài, điều đó chẳng khác nào gồng mình chịu mọi đau đớn để cắt bỏ đi khối u.
Hành thiền là tuân theo phương pháp tu tập, dần dần dứt bỏ các vọng niệm, cho đến khi đạt được trình độ vô niệm, lúc bấy giờ bạn mới thực sự nhận ra rằng, những cái tồn tại trước đây chẳng qua chỉ là một chuỗi vọng niệm phiền não mà thôi, đó chẳng phải là con người thật của bạn. Con người thật của bạn luôn hiện hữu với sự vật khách quan, cả hai không thể tách rời. Bởi sự vật khách quan tồn tại, tức là chủ thể bạn tồn tại, hay nói cách khác là sự vật tồn tại chính là con người bạn đang hiện hữu. Cho nên bạn không cần phải truy cầu cái gì, và cũng chẳng cần bỏ cái gì, trách nhiệm của bạn là xây dựng con người bạn hoàn mỹ hơn .
Hành thiền một khi đã đạt đến trình độ vô niệm, lúc bấy giờ bạn là người rất yêu nhân loại, yêu chúng sanh, mọi hành vi động tác của bạn đều được soi sáng, hướng dẫn đúng mức. Một nhãn quan mới về nhân sinh, vũ trụ được mở ra, cõi lòng này sẽ không còn là biển khổ, hay một bức tranh gớm ghiếc, mà là một bức họa, một bản hợp tấu tuyệt vời, bạn sẽ nhìn đời bằng cặp mắt bình đẳng và đầy tràn tình thương.
Đức Phật đã dạy: ‘Trí tuệ và phước đức của chúng sanh không đâu không bằng Phật’. Nếu như bạn siêng năng thực hành thiền thì nguyện vọng của bạn nhất định sẽ thành hiện thực. Bất luận là già trẻ gái trai, không phân biệt kẻ trí người sơ, kẻ mạnh người gầy mòn, cũng chẳng màng đến chức danh địa vị tôn giáo, cánh cửa thiền luôn rộng mở chào đón bạn.
Trước khi dứt lời, người viết muốn nói rằng, nếu một khi bạn đã quyết tâm thực hành thiền thì bạn nên đến tham vấn các thiền sư. Ðây chỉ là một bài văn thảo luận về thiền, và chỉ mong giúp bạn một chút tri thức về thiền . Chúc bạn một mùa xuân an lạc.

Thích Thông Tịnh

Posted on Tháng Một 12, 2012, in Văn hóa. Bookmark the permalink. Để lại phản hồi.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.